CÁC LOẠI VẬN ĐƠN VÀ PHÂN LOẠI VẬN ĐƠN

*Các loại vận đơn :
– Master Bill là gì? (Master Bill of Lading hoặc Master Air Way Bill) là vận đơn do Hãng vận chuyển trực tiếp (hãng hàng không, hãng tàu) phát hành cho shipper hoặc công ty logistics / công ty giao nhận (forwarder).
– House Bill là gì? Sau khi nhận được MB/L, các công ty logistic / forwarder sẽ phát hành ra House Bill (House Bill of Lading hoặc House Air Way Bill) cho khách hàng trực tiếp. Thường gặp khi xnk hàng lẻ (LCL)
+ Trong việc vận chuyển hàng hóa bằng container nguyên tắc chung là các hãng tàu vận chuyển container chỉ nhận những lô hàng đóng trong một container, không nhận những lô hàng nhỏ lẻ.
+ Với những lô hàng nhỏ lẻ, người đại lý giao nhận / gom hàng lẻ (Freight Forwarder / Consol) đứng ra thu gom hàng từ những chủ hàng nhỏ lẻ để lưu cước với hãng tàu.
Trong hợp đồng với hãng tàu container, đại lý giao nhận trở thành người gửi hàng (Shipper) và được hãng tàu cấp vận đơn (Master B/L). Trên cơ sở đó, đại lý giao nhận sẽ cấp lại cho mỗi một chủ hàng nhỏ lẻ một vận đơn khác gọi là vận đơn thứ cấp (House B/L). Sở dĩ gọi là thứ cấp vì nó được phát hành sau khi có vận đơn chủ và phải dựa vào vận đơn chủ, phát hành trước.
+ Như vậy trong những trường hợp này hãng tàu container sẽ là người vận chuyển thực tế (Effective Carrier), còn đại lý giao nhận là người vận chuyển theo hợp đồng (Contracting Carrier). Phần lớn vận đơn thứ cấp đều được cấp dưới dạng vận đơn vận tải đa phương thức. Tình hình tương tự cũng xảy ra trong vận chuyển hàng hóa bằng máy bay chỉ có khác là trong chuyên chở hàng bằng máy bay thì hai loại vận đơn này gọi là Master Airway Bill và House Airway Bill.

khóa học xuất nhập khẩu miễn phí 030
– Vận đơn Surrendered (Surrendered Bill of Lading): là bill surrender, telex release hay cò gọi là điện giao hàng hay nhận hàng không cần bill gốc.
Bill surrender thường phát sinh trong 2 trường hợp:
+ Hàng hóa cập cảng đến trước chứng từ.
Ví dụ: từ Cát lái đi Laem Chabang hay Cát lái đi Singapore mất 2 ngày trong khi chứng từ luôn đến chậm hơn.
+ Điều kiện thanh toán tiền hàng theo phương thức TT, TTr. Vd: Người mua đặt cọc trước 30%, và khi hàng đến cảng, người bán sẽ yêu cầu nhận 70% còn lại trước khi yêu cầu hãng tàu làm telex release – điện giao hàng để người mua nhận hàng.
Quy trình làm Bill surrender: sau khi gửi chi tiết bill (SI) Shipper yêu cầu hãng tàu làm bill surrender, telex release… và thanh toán mọi chi phí liên quan. Hãng tàu nước người XK gửi Telex release cho đại lý hãng tàu của nó bên nước consignee về việc surrender bill. Shipper fax surrendered bill cho consignee. Khi có giấy báo hàng đến consignee mang giấy giới thiệu lên hãng tàu để nhận D/O.

– Vận đơn FIATA (FBL) là gì? là mẫu vận đơn do Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA) ban hành phù hợp với các quy tắc thống nhất về chứng từ vận tải hỗn hợp của Phòng Thương mại quốc tế (ICC). FBL cũng được xem là mẫu vận đơn thứ cấp thịnh hành và phổ biến đối với những nhà giao nhận vận tải (carrier) hoặc vận tải đa phương thức (MTO). FBL hiện được sử dụng rộng rãi, là chứng từ có thể chuyển nhượng được các ngân hàng trên thế giới chấp nhận thanh toán.
Hiện nay, Hiệp hội giao nhận kho vận VN (VIFFAS) được FIATA ủy nhiệm việc quản lý phát hành mẫu FBL (cung cấp mẫu in) cho các thành viên của VIFAS có nhu cầu phát hành FBL tại VN như là vận đơn thứ cấp (House B/L) của mình hoặc dùng để đăng ký với cơ quan thẩm quyền là mẫu chứng từ vận tải đa phương thức quốc tế theo NĐ 87/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

– Vận  đơn IATA là gì? là vận đơn hàng không được in theo mẫu tiêu chuẩn của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế IATA (IATA standard form). Một bộ vận đơn bao gồm nhiều bản, trong đó bao gồm 3 bản gốc và các bản phụ.

*Phân loại vận đơn:
Vận đơn đường biển rất đa dạng, phong phú, được sử dụng vào những công việc khác nhau tùy theo nội dung thể hiện trên vận đơn. Trong thực tiễn buôn bán quốc tế, có rất nhiều căn cứ để phân loại vận đơn, cụ thể như sau:
– Căn cứ vào tình trạng bốc xếp hàng hóa:
+ Vận đơn đã bốc hàng lên tàu – Shipped on board B/L là gì? Là loại vận đơn mà chủ tàu, thuyền trưởng hoặc người làm công cho chủ tàu cấp cho người gửi hàng khi đã hoàn thành việc bốc hàng lên tàu.
+ Vận đơn nhận hàng để chở – Received for shipment B/L là gì? Là vận đơn nhận hàng để chở được ký phát cho người gửi hàng để cam kết hàng sẽ được bốc lên tàu và chở bằng con tàu như đã ghi trên vận đơn.
– Căn cứ ghi chú trên vận đơn:
+ Vận đơn hoàn hảo – Clean B/L là gì? Là vận đơn không có ghi chú khiếm khuyết của hàng hóa hay bao bì. Cleaned on Board.
+ Vận đơn không hoàn hảo
Unclean B/L
Dirty B/L là loại vận đơn trên đó người chuyên chở có ghi chú xấu về tình trạng hàng hóa hay bao bì.
– Căn cứ vào tính pháp lý của vận đơn:
+ Vận đơn gốc: Original Bill of Lading là vận đơn được ký bằng tay có thể không có dấu “Original” và có thể giao dịch, chuyển nhượng được.
+ Vận đơn bản sao: Copy B/L là vận đơn bản phụ của vận đơn gốc, không có chữ ký tay, thường có dấu “Copy” và không giao dịch chuyển nhượng được.
– Căn cứ vào hành trình của hàng hoá:
+ Vận đơn đích danh: Straight B/L là vận đơn ghi rõ tên và địa chỉ của người nhận hàng.
+ Vận đơn theo lệnh: To order B/L là vận đơn mà trên đó ghi rõ hàng được giao theo lệnh của một người nào đó hoặc ngân hàng.
+ Vận đơn vô danh: To bearer B/L là loại vận đơn không ghi tên của người nhận hàng mà hàng sẽ được giao trực tiếp cho người cầm vận đơn gốc. (hiếm gặp)
– Căn cứ theo phương thức thuê tàu:
+ Vận đơn tàu chợ – Liner B/L là vân đơn được ký phát cho người gửi hàng khi sử dụng tàu chợ để vận chuyển hàng, vận đơn này ngoài giá trị là chứng từ sở hữu hàng hoá mà còn có giá trị pháp lý như một hợp đồng chuyên chở. (Container)
+ Vận đơn tàu chuyến – Voyage Charter B/L là loại vận đơn được ký phát cho người gửi hàng khi sử dụng phương thức thuê tàu chuyến, và thường có câu “sử dụng với hợp đồng thuê tàu – tobe used with charter party”.
– Căn cứ vào phương thức chuyên chở:
+ Vận đơn đi thẳng – Direct B/L là vận đơn được cấp trong trường hợp hàng hoá được chỏ thẳng từ cảng bốc đến cảng dỡ mà không chuyển tải dọc đường.
+ Vận đơn chở suốt – Through B/L là loại vận đơn được ký phát cho người gửi hàng và dùng cho người nhận đi nhận hàng ở cảng đến mà không quan tâm đến việc hàng có được chuyển tải hay không và có bao nhiêu vận đơn khác đã được phát hành trong quá trình vận chuyển.
+ Vận đơn vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Bill of Lading) hay vận đơn vận tải liên hợp (Combined Transport Bill of Lading) là vận đơn được sử dụng trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng hai hay nhiều loại phương tiện vận tải khác nhau.
+ Vận đơn NVOCC (Non Vessel Operating Common Carier) là vận đơn được phát hành bởi người vận chuyển không có tàu. Người vận chuyển hàng hóa bằng đường biển thường là chủ tàu, hoặc người thuê tàu trần hoặc thuê tàu định hạn trong khi đó người kinh doanh vận tải đa phương thức thực tế không phải là chủ phương tiện mà chỉ mua lại dịch vụ vận chuyển từng chặng sau đó bán lại dịch vụ vận tải đa phương thức toàn chặng cho chủ hàng bằng một hợp đồng duy nhất. Thông thường người ta gọi họ là người vận chuyển không có tàu (Non Vessel Operating Common Carier: NVOCC) hay nói cách khác họ chỉ là những người cung cấp dịch vụ vận chuyển.

*Quy trình làm vận đơn B/L gồm các bước chính như sau:
1- Lấy báo giá cước tàu + phụ phí (hàng chỉ định thì không cần).
2- Lấy lịch tàu tuyến cần đi.
3- Gửi booking note.
4- Nhận booking confirmation hoặc lệnh cấp container rỗng…
5- Lấy cont về kho / mượn cont trải bãi đóng hàng.
6- Trả cont tại depot / cảng theo chỉ định trong booking và hoàn thành TTHQ trước giờ closing time.
7- Làm chi tiết B/L (Shipper Instruction) gửi hãng tàu trước giờ document cut off.
8- Nhận bill draft.
9- Check, revise & confirm bill draft.
10- Tới hãng tàu để nhận B/L và đóng tiền phụ phí theo B/L.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *