ĐIỀU KHOẢN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ INCOTERMS

* Incoterms thực chất là gì ?
Incoterms (viết tắt của cụm từ: International Commerce Terms –có nghĩa là: Các điều khoản thương mại quốc tế) thực chất là bộ các quy tắc thương mại quốc tế được công nhận và dùng  rộng rãi trên toàn thế giới. Incoterm quy định những quy tắc có liên quan đến giá cả và trách nhiệm của các bên (bên bán và bên mua) tham gia vào 1 lô hàng Xuất khẩu-nhập khẩu cụ thể .

* Vì sao cần phải học Incoterms  ?
Bởi vì sau khi 2 bên xuất khẩu và nhập khẩu thỏa thuận đồng ý về việc sẽ trao đổi mua bán hàng hóa và chuẩn bị dẫn đến việc kí kết hợp đồng, thì sẽ phát sinh ra hàng loạt công việc khác mà trong đó, cần phải làm rõ là việc nào thì sẽ thuộc trách nhiệm của người bán phải làm, còn việc nào thì sẽ thuộc trách nhiệm của người mua phải làm. Đó chính là lí do chúng ta cần phải học Incoterms, để có thể phân định một cách rõ ràng nhất và hiểu rõ từng công việc cụ thể: việc nào ai làm để quá trình xử lý hàng hóa xuất nhập khẩu diễn ra một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất .

* Đặc điểm của Incoterms:
1.Incoterms là tập quán thương mại, không có tính chất bắt buộc. Chỉ khi nào các bên tham gia hợp đồng quy định sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì nó mới trở thành điều kiện bắt buộc, ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng.
2.Các phiên bản ra đời sau không phủ nhận tính hiệu lực của các phiên bản trước. Chính vì vậy, mà khi sử dụng thì cần phải ghi rõ áp dụng Incoterms phiên bản nào để đối chiếu, để xác định trách nhiệm của các bên.
3.Incoterms chỉ giải thích những vấn đề chung nhất có liên quan đến việc giao hàng, như việc bên nào có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải hoặc mua bảo hiểm, khi nào người bán giao hàng cho người mua và phân chia chi phí cho các bên ra sao. Song các vấn đề khác như giá cả, phương thức thanh toán, việc bốc, xếp, dỡ hàng hóa, lưu kho, lưu bãi thì tùy theo vào thỏa thuận của các bên thể hiện trong hợp đồng hoặc theo tập quán cảng, tập quán ngành kinh doanh, tập quán của nước sở tại của các bên tham gia mua bán.
=>Tùy vào tính chất của 1 lô hàng cụ thể, lúc này 2 bên mua và bán có thể tăng giảm trách nhiệm, nghĩa vụ cho nhau tùy thuộc vào vị thế mạnh (yếu) trong giao dịch nhưng không được làm thay đổi bản chất điều kiện cơ sở giao hàng. Việc tăng, giảm trách nhiệm, nghĩa vụ (nếu có) cần phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mua bán, để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình xuất nhập khẩu lô hàng đó.
4.Incoterms chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ người mua đến người bán chứ không xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa, cũng như hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng.
5.Các bên cũng cần biết rằng luật địa phương được áp dụng có thể làm mất hiệu lực bất cứ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms đã được lựa chọn trước đó.
Tùy thuộc vào việc hàng hóa được chuyên chở bằng phương tiện nào: đường không, đường biển hay đường bộ, loại hình nào: hàng container hay hàng rời, sà lan thì có những nhóm điều kiện tương ứng.

* Cách nhớ Incoterms.
Điều kiện của Incoterms 2010 được phân thành 4 nhóm và chia làm 11 điều khoản. Cách nhớ thì bạn cũng có thể tưởng tượng mình là phú ông, có 4 cô hầu gái ngoan ngoãn theo hầu, cô nào cũng xinh xắn ngoan ngoãn và đều yêu thích ngành XNK có tên bắt đầu bằng E,F,C,D: Én(Yến)-Fương-Chi-Dung, lúc này thì mình sẽ có động lực để học Xuất nhập khẩu hơn. Cụ thể để nhớ từng nhóm như sau:

khóa học xuất nhập khẩu miễn phí 019

1. Nhóm E-EXW-Ex Works-Giao hàng tại xưởng
Giờ mình có  hàng hóa muốn bán ra nước ngoài  nhưng lười và không muốn chịu trách nhiệm gì về thủ tục cho lô hàng đó, từ xin giấy phép xuất khẩu đến thuê phương tiện vận chuyển, thuê tàu, mua bảo hiểm thì đó là điều kiện nhóm E .Tức là khi bán hàng mà chẳng muốn làm thủ tục gì thì ta nhớ đến nhóm E.

2. Nhóm F
Trong nhóm F có 3 nhóm là FOB, FCA, FAS đều bắt đầu bằng chữ F là free nghĩa là: không có trách nhiệm, cụ thể ở đây là không có trách nhiệm với việc vận chuyển từ cảng bốc hàng đến cảng dỡ hàng. Cụ thể đi sâu vào chi tiết, để phân biệt 3 điều khoản con: FCA, FAS, FOB ta dựa vào trách nhiệm vận chuyển hàng từ cơ sở của người bán lên tàu.
2.1 FCA-Free Carrier-Giao hàng cho người chuyên chở
Chỉ bốc hàng lên phương tiên vận tải người mua gửi đến nhận hàng nếu vị trí đó nằm trong cơ sở của người mua. Sau khi bốc hàng lên phương tiện vận tải là tôi hết trách nhiệm. Ví dụ ở quê trồng nhiều chuối, giờ muốn bán 1 container chuối theo điều kiện FCA sang Mỹ cho tổng thống Mỹ dùng làm món tráng miệng, cơ sở sản xuất của tôi ở Kỳ Anh. Nếu tôi giao hàng ở cơ sở Kỳ Anh, thì tôi phải thuê xe nâng để chuyển hàng lên xe container chuyên dụng do người mua gửi đến.Lấy trường hợp, vẫn bán theo điều kiện FCA, nhưng giao hàng ở kho trung chuyển ở Tân Cảng chẳng hạn, lúc này việc vận chuyển hàng lên xe container chuyên dụng do người mua gửi đến, người mua phải tự lo lấy. Nghe có vẻ không công bằng, thực ra thì người bán đã phải vận chuyển hàng đến tận kho trung chuyển rồi. Điều này có lợi cho những nhà xuất khẩu, bán hàng nhiều, có vị trí tập kết hàng tốt.
Làm sao nhớ được tính chất cơ bản của điều khoản FCA? – Nhớ đến FCA hãy nhớ từ C-Carrier ,Free Carrier –Miễn trách nhiệm vận chuyển, chính là ý nghĩa đã phân tích ở trên
2.2 FAS-Free alongside-Giao hàng dọc mạn tàu:
Nhóm này, trách nhiệm người bán, cao hơn nhóm FCA, nghĩa là không giao hàng tại cơ sở sản xuất hay điểm trung chuyển như trên mà người bán phải thuê phương tiện vận chuyển để đưa hàng xếp dọc mạn tàu.Để nhớ đặc tính này hãy nhớ từ Free Alongside – Miễn trách nhiệm đến khi đã xếp dọc mạn tàu.
2.3 FOB-Free on Board-Giao hàng lên tàu
Ở điều kiện FAS trách nhiệm ta là giao hàng đến mạn tàu, thế còn nếu khi bốc hàng từ mạn tàu lên tàu, chẳng may hàng bị vỡ thì sao, ai chịu trách nhiệm? Ai trả chi phí bốc hàng này? Trả lời câu hỏi trên chính là điều kiện FOB. Vậy nhớ đến FOB, hãy nhớ đến trách nhiệm của chúng ta là phải giao hàng lên đến tàu, nghĩa là chịu trách nhiệm cẩu hàng lên tàu. Từ Free on board nói lên điều đó – Miễn trách nhiệm khi đã giao hàng lên tàu. Như vậy trong điều kiện nhóm F , hãy nhớ 2 điểm quan trọng:
Trách nhiệm chuyên chở tăng dần: FCA———>>>FAS———>>> FOB
Chịu chi phí làm thủ tục xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu.Vậy là từ nhóm E, tôi chỉ giao hàng thôi, còn người mua muốn làm sao thì làm.
Đến nhóm F, trách nhiệm có nâng lên một tí, tức là có đề cập đến trách nhiệm chuyên chở.Vậy cao hơn nữa là gì? Đó làđảm nhận luôn việc chuyên chở đến cảng dỡ hàng cho người mua.Khi nghĩ đến việc thuê tàu và chuyên chở từ cảng đi đến cảng đến hãy nhớ đến nhóm C. Chắc chắn từ gợi nhớ đến nhóm C là từ cost từ cước phí

3. Nhóm C
Như vậy, nói đến nhóm C, là nói đến thêm chi phí người bán sẽ lo thêm từ việc thuê tàu, đến việc chuyên chở và bốc hàng, cũng như bảo hiểm cho các rủi ro trong quá trình chuyên chở. Và những tính chất này cũng là cơ sở để phân biệt các điều kiện trong nhóm C
3.1 CFR-Cost and Freight-Tiền hàng và cước phí
Đơn giản là người bán phải chịu thêm chi phí chuyên chở đến cảng dỡ hàng, còn chi phí dỡ hàng do người mua chịu nếu có thỏa thuận.
Giá CFR = Giá FOB + F (Cước phí vận chuyển)
3.2 CIF-Cost-Insurance and Freight-Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Quá trình chuyên chở từ cảng mua đến cảng bán là do người bán chịu rồi nhưng nếu dọc đường đi, chẳng may hàng hóa bị hỏng thì sao? Rõ ràng là cần phải mua bảo hiếm cho hàng. Như vậy CIF giống CFR ngòai việc người bán phải mua bảo hiểm. Thường thì mua bảo hiểm ở mức tối thiểu theo FPA hay ICC(C) -110% giá trị hàng hóa giao dịch.Bí quyết để nhớ nhóm CIF vối các nhóm khác là từ I-Insurance-Bảo hiểm
Giá CIF=Giá FOB + F(cước vận chuyển) +(CIF x R)= (FOB+F)/(1-R)
Có những doanh nghiệp mua hàng, làm sang, mặc dù ta đã chuyển hàng đến cảng nhưng họ chưa thỏa mãn, muốn ta chuyển công ty hay địa điểm họ chỉ định nằm sâu trong nội địa, do vậy phát sinh thêm điều kiện CPT, CIP.
3.3 CPT-Carriage padi to-Cước phí trả tới
CPT= CFR + F(Cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định).
Đặc điểm nổi bật của CPT là ở chỗ đó, giống hệt CFR, ngoài ra còn thêm cước phí vận chuyển từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định
3.4 CIP-Carriage and insurance paid to-Cước phí và bảo hiểm trả tới
CIP = CIF + (I+F)(Cước phí vận chuyển và bảo hiểm từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định) = CPT+I (Cước phí bảo hiểm từ cảng dỡ hàng đến vị trí nhận hàng do người bán chỉ định)
Như vậy trong nhóm C, có các lưu ý sau :
Trách nhiệm làm thủ tục nhập khãu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu thuộc người mua.
Trách nhiệm người bán tăng dần CFR ——->>> CIF——->>> CPT——->>> CIP
CIF, CFR chỉ áp dụng phương tiện vận tải thủy
CPT, CIP áp dụng đường sắt, đường bộ, đường hàng không, và cả vận tải đa phương thức
Ta thấy 3 nhóm trên là tương đối đủ nhưng tại sao lại có thêm nhóm D?
Câu trả lời là có những yêu cầu mà điều kiện giao hàng, nó không nằm trong bất kỳ điều kiện nào trong các nhóm trên, hoặc phải áp dụng các điều kiện trên nhưng kèm theo là các điều khoản bổ sung.
Lấy ví dụ :
Ví dụ 1: Công ty Vietnam-Ship bán vải sấy ép khô cho Trung Quốc qua cửa khẩu Lạng Sơn, điều kiện Trung Quốc yêu cầu là giao hàng cho Trung Quốc trên các xe tải tại biên giới , việc chuyên chở, thuê xe đến điểm quy định trên biên giới là do cty Việt Nam đảm nhận, còn việc bốc dỡ hàng từ xe tải xuống tại điểm giao hàng, phía Trung Quốc sẽ lo. Vậy ta kiểm tra xem, áp dụng được điều khoản nào, trong các nhóm E, F, C mà ta đã học không nhé : Nhóm E: Chắc chắn là không rồi, yêu cầu giao hàng tại cửa khẩu Lạng Sơn, mà vải thì thu gom ở Phú Thọ, nếu theo E thì cty Việt Nam chỉ giao hàng ở Phú Thọ thôi.
Nhóm F: FCA: Không được, bởi phìa Trung Quốc không đồng ý thuê ô tô vào tận PHÚ THỌ lấy vải. FAS: Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy FOB: Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy
Nhóm C: CFR: Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy CIF: Không được, điều kiện này chỉ áp dụng với phương tiện vận tải thủy CPT: Nghe có vẻ được, nhưng CPT là người mua thuê phương tiên vận tải chuyển hàng đến kho cho người bán từ cảng dỡ hàng nhưng ở đây phía Trung Quốc chỉ yêu cầu giao hàng ngay tại biên giới, không cần chuyên chở đi đâu cả, việc dỡ hàng và chuyển đến kho họ sẽ lo CIP: Cũng tương tự như CPT không áp dụng được.
Ví dụ 2:
Công ty Vietnam-Ship xuất hàng thủy sản là tôm đông lạnh sang cho Nhật, phía Nhật yêu cầu giao tại cảng Kobe cho họ, còn việc bốc hàng xuống họ sẽ tự lo, phía Việt Nam chỉ cần đưa các con tàu chở hàng đến cảng Kobe an toàn là được.
Trong trường hợp này, rõ ràng là có thể áp dụng điều kiện CFR , nhưng Với CFR , người bán phải đảm bảo cho hàng an toàn sau khi qua lan can tàu tại cảng đến. Còn trong trường hợp này, doanh nhiệp Nhật sẽ tự lo, anh Việt Nam chỉ cần đưa hàng an toàn đến cảng và đảm bảo hàng nằm trên tàu an tòan là được. Vậy, nếu muốn áp dụng CFR, phải ký thêm thỏa thuận là phía Việt Nam chỉ chịu đưa hàng an toàn đến cảng và đảm bảo hàng nằm trên tàu an toàn là được.
Qua 2 ví dụ trên, ta thấy sự cần thiết có nhóm D

4. Nhóm D
DAT-Delireres at terminal- Giao hàng tại bến
Nghĩa là người bán giao hàng, khi hàng hóa đã dỡ khỏi phương tiện vận tải đến tại 1 bến theo quy địnhỞ đây người bán chỉ chịu rủi ro đến khi hàng hóa được giao
Trường hợp muốn người bán chịu rủi ro và chi phí vận chuyển hàng từ bến đến địa điểm khác thì nên dùng điều kiện DAP hoặc DDP, vậy thì làm thế nào để phân biệt DAP và DDP…., câu trả lời nằm ở rủi ro và chi phí thông quan nhập khẩu
Nếu các bên muốn người mua chịu mọi rủi ro và chi phi thông quan nhập khẩu thì nên sử dụng DAP
Nếu các bên muốn người bán làm thủ tục thông quan nhập khẩu, trả thuế và chi phí liên quan đến nhập khẩu thì sử dụng DDP
DAP-Delivered at place-Giao hàng tại nơi đến
Người bán chịu mọi rủi ro cho đến khi hàng đã được đặt dưới sự định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải đến và sẵn sàng để dỡ tại nơi đến
DDP-Delivered duty paid-Giao hàng đã thông quan nhập khẩu
Nghĩa là người bán chịu mọi rủi ro liên quan để đưa hàng đến nới đến và có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu—> DDP thể hiện nghĩa vụ thối đa của người bán.

* Điểm lại:
-Trách nhiệm thuê phương tiện vận tải:
Nhóm E,F :người mua . Địa điểm giao hàng tại nơi đến.
Nhóm C,D:người bán . Địa điểm giao hàng tại nơi đi.
-4 điều kiện chỉ áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa : FAS, FOB, CFR, CIF : địa điểm chuyển giao hàng là cảng biển.
-Trách nhiệm về mua bảo hiểm đối với hàng hóa:
Nhóm E,F: người mua.
Nhóm D: người bán.
Nhóm C:
CIF, CIP: người bán.
CFR, CPT: người mua.
-Trách nhiệm về làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa.
Xuất khẩu: * EXW : người mua. * 10 điều kiện còn lại :người bán.
Nhập khẩu : * DDP:người bán. * 10 điều kiện còn lại là người mua.

* Một số lưu ý khi sử dụng Incoterms:
-Incoterms chỉ áp dụng đối với hợp đồng ngoại thương mà không áp dụng cho hợp đồng nội thương.
Incoterms chỉ áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa dạng vật chất (hữu hình), không áp dụng cho hàng hóa phi vật chất (vô hình).
-Về tính luật của Incoterms: Incoterms ra đời năm 1936 qua 6 lần sửa đổi, 7 bản có giá trị như nhau.
Khi áp dụng Incoterms, các bên có thể thỏa thuận thêm những qui định khác trái với Incoterms.
-Incoterms do ICC ban hành, các bên thỏa thuận dẫn chiếu trong hợp đồng nhưng không có nghĩa mặc nhiên ICC là trọng tài phân xử tranh chấp.
-Incoterms không thể thay thế cho hợp đồng mua bán quốc tế, nó chỉ là một phần của hợp đồng mua bán quốc tế.
-Hạn chế sử dụng các tập quán, thói quen thương mại hình thành tự phát trong hoạt động mua bán.
-Trong trường hợp chuyên chở hàng hóa bằng container sử dụng vận tải đường thủy, nên lựa chọn điều kiện FCA, CPT, CIP thay cho FOB, CFR, CIF. Nên lựa chọn điều kiện trong Incoterms sao cho DN Việt Nam giành quyền thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hóa.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *