SO SÁNH MASTER BII VÀ HOUSE BILL

*Vận đơn đường biển (Bill Of Lading ):
Vận đơn đường biển Bill of lading ) thường được gọi ngắn gọn là Bill, B/L là một loại chứng từ trong chuyên chở bằng đường biển, do người chuyên chở cấp phát cho shipper khi đã nhận được hàng, hoặc do người đại diện (hãng tàu) cấp sau khi đã xếp hàng lên tàu.
Thực tế, người ta chia ra làm 2 loại B/L đó là Master Bill (MBL) và House Bill (HBL).
Vậy Master Bill là gì ?  và House Bill là gì, và chúng khác nhau ở những điểm nào ?

*Master Bill : là loại bill do hãng tàu ( người sở hữu tàu ) phát hành cho shipper có nghĩa là shipper đứng tên trực tiếp trên bill và có thể hiện logo của hãng tàu. Master Bill trong Xuất nhập khẩu được gọi là Vận đơn chủ .
khóa học xuất nhập khẩu miễn phí 029
Có các trường hợp phát sinh Master Bill:
– Khách gửi hàng có thể trực tiếp liên hệ và gửi hàng cho hãng tàu, lúc này KH sẽ trực tiếp nhận MBL.  Lúc này Shipper đứng tên chủ hàng, consignee là tên người mua hàng thực sự
– Khách gửi hàng cho Forwarder, nhưng khách muốn nhận MBL chứ không muốn nhận HBL, lúc này Forwarder chỉ đóng vai trò môi giới, nhận book tàu giúp khách. Lúc này Shipper là tên công ty Forwarder, consignee là tên đại lý của công ty Forwarder tại nước sở tại

*House Bill
 : Là loại bill do công ty Forwarder phát hành cho shipper, trên bill có thể hiện logo của công ty Forwarder chứ không có logo của hãng tàu. Trên HBL shipper là chủ hàng và consignee là người mua hàng thực sự. Sau khi shipper nhận được MBL hoặc HBL gốc sẽ gửi qua cho consignee để nhận hàng. Đó là trên lý thuyết, còn thường thì shipper sẽ đổi bill gốc lấy surrender bill để telex release qua cho consignee cho tiện và có phát sinh phí telex release ( phí điện giao hàng ).

khóa học xuất nhập khẩu miễn phí 028*So sánh  giữa MBL và HBL :
-HBL là do Forwarder phát hành nên dễ chỉnh sửa hơn so với MBL có thể tùy ý chỉnh sửa theo nhu cầu của shipper.
-Tuy nhiên HBL lại rủi ro hơn MBL nhiều, vì khi có rủi ro nếu có MBL gốc thì shipper có thể kiện hãng tàu được, còn HBL gốc không có hiệu lực đối với hãng tàu, chỉ có hiệu lực giữa 2 bên là shipper và forwarder .
-MBL có 1 dấu và chữ kí, HBL có thể có 2 (1 của người gom hàng và 1 có thể của người chuyên chở xác nhận việc đã xếp hàng lên tàu)
-MBL ghi cảng đi đến, HBL ghi nơi giao nhận.
-Trên mặt MBL ghi tên, logo hãng tàu còn HBL ghi tên, logo người giao nhận.
*Ngoài ra thì xét ở khía cạnh khác thì có sự khác nhau giữa:
-Mối quan hệ được điều chỉnh
MBL điều chỉnh mối quan hệ giữa người chuyên chở thực tế và người gửi hàng (có thể là người gom hàng) trong khi HBL được điều chỉnh mối quan hệ người gửi hàng (chủ hàng) và người gom hàng (forwarder).
-Chức năng thanh toán
Sau khi nhận được MBL, người gom hàng (forwarder) sẽ gửi nó cho đại diện của mình để nhận hàng, do đó nó không dùng để thanh toán. Còn HBL được gửi từ người gửi hàng đến người nhận hàng, quá trình này cũng chính là quá trình chuyển quyền sở hữu với lô hàng mà đi kèm với nó là thanh toán. HBL sẽ có tên trong bộ chứng từ thanh toán.–Thời điểm cấp HBL và MBL
HBL được cấp khi người gom hàng nhận hàng để chở còn MBL khi hàng được xếp lên tàu.
Trên thực tế, thường khi Hãng tàu/Người gom hàng cấp MBL cho forwarder, lúc đó forwarder sẽ dựa trên MBL để cấp HBL cho chủ hàng.
-Tác động bởi các qui tắc luật quốc tế
MBL thường là vận đơn đường biển nên nó chịu tác động của các quy tắc Hague, Hamburg còn HBL thì không.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *