TIN TỨC- TUYỂN DỤNG

– Pakistan- thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam

doiche1.

Theo số liệu của Tổng cục hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2015 đạt 24.452 tấn, trị giá 39.544.257 USD, giảm 0,47% về lượng nhưng tăng 4,43%về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Pakistan vẫn là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, với 6.412 tấn, trị giá 13.144.458 USD, tăng 100,63% về lượng và tăng 110,64% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 34% tổng trị giá xuất khẩu. (Trong quí I/2015, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè xanh BT và chè đen PD sang thị trường Pakistan qua cảng Cát Lái và Tân cảng Hải Phòng).

Sản lượng chè Pakistan nhập khẩu từ Việt Nam đang tăng nhanh sau từng năm. Với dân số gần 200 triệu người, cùng văn hóa uống trà truyền thống lâu đời, Pakistan là một trong những thị trường tiêu thụ chè lớn, đầy tiềm năng tại khu vực Nam Á và chè Việt đang trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng tại quốc gia này.

Nga và Đài Loan là những thị trường lớn xuất khẩu chè của Việt Nam. Xuất khẩu sang Nga chiếm 12% (Việt Nam chủ yếu xuất khẩu trà nhài sang thị trường Đài Loan qua cảng Đình Vũ. Xuất khẩu chè sang Đài Loan chiếm 11% tổng trị giá xuất khẩu chè trong quí I/2015).

Trong 3 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam sang một số thị trường tăng trưởng mạnh: sang UAE tăng 134,85% về lượng và tăng 98,83% về trị giá; xuất Ucraine tăng 75,37% về lượng và tăng 78,78% về trị giá; xuất sang Indonêsia tăng 37,01% về lượng và tăng 29,52% về trị giá.

Một số thị trường sụt giảm mạnh xuất khẩu: Xuất sang Trung quốc giảm 60,26% về lượng và giảm 50,06% về trị giá; xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm 84,82% về lượng và giảm 85,56% về trị giá; xuất khẩu chè sang Ấn Độ giảm 80,38% về lượng và giảm 82,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Từ nay đến năm 2020, ngành chè dự kiến duy trì khoảng 140.000 ha đồng thời quy hoạch phát triển vùng chè an toàn tại các tỉnh Nghệ An, Sơn La, Yên Bái và triển khai VietGAP để nâng cao chất lượng chè nhằm tăng năng suất cũng như chất lượng chè phục vụ nhu cầu tiêu thu trong nước và xuất khẩu.

Số liệu xuất khẩu chè của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2015

Thị trường 3 Tháng/2014 3 Tháng2015 Tăng giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng Trị giá
Tổng 24.568 37.866.072 24.452 39.544.257 -0,47 +4,43
Pakistan 3.196 6.240.298 6.412 13.144.458 +100,63 +110,64
Nga 3.136 5.270.204 3.354 5.260.022 +6,95 -0,19
Đài Loan 3.846 4.919.811 3.483 4.713.689 -9,44 -4,19
Hoa Kỳ 2.004 2.352.475 1.937 2.297.877 -3,34 -2,32
Indonêsia 1.478 1.593.712 2.025 2.064.115 +37,01 +29,52
Trung Quốc 2.680 3.595.232 1.065 1.795.388 -60,26 -50,06
Arập xêút 720 1.818.538 599 1.584.517 -16,81 -12,87
UAE 241 453.971 566 902.637 +134,85 +98,83
Đức 556 755.020 623 895.515 +12,05 +18,61
Ba Lan 973 1.261.716 501 773.918 -48,51 -38,66
Ucraina 272 417.655 477 746.696 +75,37 +78,78
Côoét 399 737.011 433 603.535 +8,52 -18,11
Malaysia 719 649.154 563 420.083 -21,7 -35,29
Thổ Nhĩ Kỳ 191 423.055 29 61.075 -84,82 -85,56
Ấn Độ 158 199.140 31 35.256 -80,38 -82,3

 

Nguồn: Vinanet

——————————————————————————————————————————–

– UAE – thị trường tiềm năng cho hàng xuất khẩu Việt Nam

UAE

Theo số liệu thống kê, quí I/2015, VN đã xuất khẩu sang thị trường UAE khoảng 20 mặt hàng với tổng kim ngạch đạt gần 1,25 tỷ USD, tăng 18,75% so với cùng kỳ năm 2014.

Hầu hết các nhóm hàng xuất sang thị trường này đều tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó tăng mạnh ở các nhóm hàng: máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (tăng 86,71%); hạt điều (tăng 75,25%); Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (tăng 90,49%); Sản phẩm từ chất dẻo (tăng 80%); Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc (tăng 124,17%); chè (tăng 98,83%).

UAE đang giữ vị trí là một trong những thị trường tiêu thụ sản phẩm điện tử tiêu dùng lớn nhất toàn cầu, nhờ vào mức tăng trưởng cao và là một trong những trung tâm thương mại quốc tế hàng đầu thế giới, kết nối với thị trường các nước Trung Đông, Ấn Độ, Đông Âu và Bắc Phi.

Trong qúi I/2015, điện thoại và linh kiện tiếp tục là mặt hàng đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu VN sang UAE (chiếm khoảng 76,91% tổng kim ngạch), đạt 957,66 triệu USD, tăng 13,49% so với cùng kỳ năm trước. Mặt hàng máy vi tính và linh kiện tăng 90,49%, đạt 119,28 triệu USD.

Nhóm các mặt hàng nông sản cũng đang tìm được chỗ đứng tốt ở thị trường UAE. Chủ yếu gồm: hạt tiêu, hạt điều, gạo, chè, rau quả, cà phê, tinh bột sắn… Hạt tiêu vẫn là mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 23,44 triệu USD, tăng 21,94% so với cùng kỳ năm 2014. Tiếp theo là hạt điều tăng 75,25%, gạo tăng 12,45%, chè tăng 98,83%…

Cùng với nhóm hàng nông sản thì hàng thủy sản xuất sang thị trường UAE đạt trên 14,59 triệu USD, tăng nhẹ 0,46% so với cùng kỳ năm 2014. Do UAE không có lợi thế về thủy hải sản, nên nội địa chỉ cung cấp khoảng 25% nhu cầu trong nước, 75% nhu cầu còn lại phải phụ thuộc vào các nhà nhập khẩu nên thị trường này hết sức tiềm năng cho các doanh nghiệp trong nước. Thương vụ VN tại UAE cho rằng, các mặt hàng thủy sản của VN đã được thị trường này chấp nhận, đặc biệt, hai mặt hàng cá tra, ba sa đông lạnh rất được ưa chuộng.

Theo Bộ Công thương, nhu cầu nhập khẩu nhóm hàng dệt may của UAE hằng năm đạt khoảng trên dưới 6 tỉ USD. Nhưng hiện nay, hàng dệt may xuất sang UAE chỉ chiếm khoảng 1,4% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của UAE. Như vậy, tiềm năng xuất hàng dệt may sang UAE còn rất lớn. Ngoài ra, mặt hàng giày dép cũng đạt kim ngạch khá cao 19,61 triệu USD, tăng 41,08% so với cùng kỳ năm 2014.

Số liệu của TCHQ về xuất khẩu sang U.A.E quí I/2015. ĐVT: USD

Mặt hàng  Quí I/2015  Quí I/2014  Quí I/2015 so với cùng kỳ(%)  
Tổng kim ngạch        1.245.207.712        1.048.596.574 +18,75
Điện thoại các loại và linh kiện            957.656.051            843.856.452 +13,49
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện            119.276.582              62.614.276 +90,49
Dệt may              29.185.115              23.720.894 +23,04
Hạt tiêu              23.440.998              19.223.366 +21,94
Giày dép các loại              19.605.091              13.896.020 +41,08
Thủy sản              14.587.846              14.520.606 +0,46
Máy móc, thiết bị, phụ tùng              10.281.918                5.506.991 +86,71
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm                9.725.074                9.581.488 +1,50
Sắt thép các loại                6.178.302                4.661.717 +32,53
Túi xách, va li, mũ, ô dù                6.101.125                5.205.471 +17,21
Gạo                4.056.452                3.607.214 +12,45
Gỗ và sản phẩm gỗ                3.944.054                3.876.672 +1,74
Hạt điều                3.941.990                2.249.337 +75,25
Sản phẩm từ chất dẻo                3.491.342                1.939.395 +80,02
Phương tiện vận tải và phụ tùng                2.979.667                5.650.484 -47,27
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc                2.235.406                   997.212 +124,17
Rau quả                2.108.727                3.180.270 -33,69
Chè                   902.637                   453.971 +98,83
Sản phẩm từ sắt thép                   713.814                   558.259 +27,86
Giấy và các sản phẩm từ giấy                   396.902                   821.995 -51,71

Nguồn: Vinanet

—————————————————————————————————————————————

– Năm 2015 xuất khẩu cao su của Campuchia dự kiến tăng 12%.

cao su.

Theo Bộ Nông nghiệp Campuchia dự báo nước này sẽ xuất khẩu 112.000 tấn cao su khô trong năm nay, tăng 12% so với 100.151 tấn xuất khẩu hồi năm ngoái.

Năm 2014, quốc gia Đông Nam Á này đã trồng cao su trên diện tích 357.809 ha, trong đó 90.545 ha đã đến thời kỳ cho thu hoạch mủ.

Nhờ đó năm 2014 kim ngạch xuất khẩu cao su của Campuchia đã tăng 16% so với năm 2013 và đạt 154 triệu USD.

Phó Tổng Giám đốc Công ty Sopheak Nika Investment Agro-Industry Company, Men Sopheak, dự báo công ty này sẽ xuất khẩu 15.000 tấn cao su khô trong năm nay, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hiện Campuchia đang xuất khẩu cao su sang Malaysia, Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước châu Âu.

Nguồn: VIETNAM+

————————————————————————————————————————————-

– Sơ bộ tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong nửa đầu tháng 4 (từ 01/4/2015 đến 15/4/2015 )

sơ bộ

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2015 (từ 01/4 đến 15/4) đạt 13,54 tỷ USD, giảm 11,7% so với nửa cuối tháng 3/2015.

Như vậy, tính đến hết ngày 15/4/2015 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 88,4 tỷ USD, tăng 13,9% (tương ứng tăng 10,82 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2014. Cán cân thương mại hàng hóa trong kỳ 1 tháng 4/2015 có mức thâm hụt 865 triệu USD, đưa cán cân thương mại hàng hóa của cả nước tính đến hết ngày 15/4/2015 thâm hụt 3,1 tỷ USD.

Về xuất khẩu:

Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2015 đạt 6,34 tỷ USD, giảm 12,3% so với nửa cuối tháng 3/2015. Tính đến hết ngày 15/4/2015 kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt 42,65 tỷ USD, tăng 9% (tương ứng tăng gần 3,54 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2014.

So với nửa cuối tháng 3/2015, kim ngạch xuất khẩu trong kỳ 1 tháng 4/2015 giảm chủ yếu do giảm một số mặt hàng sau: Hàng dệt, may giảm 143 triệu USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 122 triệu USD; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 91 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 80 triệu USD…

Bảng Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất của Việt Nam từ 01/01/2015 đến 15/4/2015 và so sánh với cùng kỳ năm 2014 :

Trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ này đạt gần 4,3 tỷ USD, tăng 10,6% so với nửa cuối tháng 3/2015 và chiếm 67,8% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước trong kỳ.

Về nhập khẩu:Trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2015 đạt 7,2 tỷ USD, giảm 11,1% so với nửa cuối tháng 3/2015. Tính đến hết ngày 15/4/2015 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt gần 45,76 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2014.Kim ngạch nhập khẩu 15 ngày đầu tháng 4/2015 giảm so với nửa cuối tháng 3/2015 chủ yếu do giảm ở một số mặt hàng sau: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm 251 triệu USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 139 triệu USD; đậu tương giảm 60 triệu USD; điện thoại các loại và linh kiện giảm 46 triệu USD.

Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 4/2015 đạt 4,33 tỷ USD, giảm 11,7% so với nửa cuối tháng 3/2015 và chiếm 60,1% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước trong kỳ này.
Nguồn: Tổng Cục Hải Quan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *